Menu Đóng

CÁC LOẠI HÌNH VỀ QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM

Nhìn chung, có ba loại hình quỹ đầu tư mạo hiểm cơ bản và truyền thống, mặc dù các sự khác biệt trong hoạt động đầu tư giữa chúng không rõ trong những năm gần đây. Cụ thể là (1) công ty đầu tư mạo hiểm đại chúng và tư nhân; (2) các công ty đầu tư và kinh doanh nhỏ (SBIC) và các doanh nghiệp đặc thù với các quy định riêng (MESBIC) và (3) các tập đoàn đầu tư mạo hiểm.

 

Công ty Đầu tư Mạo hiểm Quốc tế đại chúng và Tư nhân. Các công ty này thường được tổ chức dưới hình thức các đối tác giới hạn (limited parnerships) để tự tìm kiếm nguồn vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác, các công ty bảo hiểm. Họ đầu tư và quản lý vào các công ty có tốc độ tăng trưởng cao, mức vốn đầu tư từ $250,000 đến 20 triệu USD nhằm tạo cơ sở cho bước đầu tư tiếp theo của các công ty tư nhân.

 

SBICs / MESBICs. Được ban hành năm 1958, Đạo luật Đầu tư Doanh nghiệp Nhỏ đã thiết lập một chương trình quốc gia về cấp phép cho các công ty đầu tư nhỏ thuộc sở hữu tư nhân. Các SBIC của các doanh nghiệp sở hữu bởi thiểu số được thêm vào bởi một sửa đổi năm 1972. Mặc dù chương trình SBIC đã gặp nhiều khó khăn, nó vẫn là một phần không thể tách rời của cộng đồng đầu tư mạo hiểm. Chương trình cho phép SBA (U.S. Small Business Administration: Cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ của Hoa Kỳ) cấp các giấy phép cho một số loại hình công ty đầu tư mạo hiểm, các giấy phép này cho phép họ vay tiền từ chính phủ liên bang với mức lãi suất rất hấp dẫn để đổi lấy những hạn chế nhất định đối với các cấu trúc giao dịch và các loại hình kinh doanh mà SBIC và MESBICs có thể đầu tư.

 

Các Tập đoàn đầu tư mạo hiểm. Tập đoàn Vốn đầu tư mạo hiểm bao gồm cả các đơn vị liên doanh vốn chính thức và đặc biệt được thành lập bởi các tập đoàn lớn (như Intel và Motorola), thường với hy vọng tài trợ cho các công ty công nghệ nhỏ có các nguồn lực mà các công ty lớn cần.

Các khoản Đầu tư thường được cấu trúc như một liên doanh bởi vì các tập đoàn này thường mang lại nhiều hơn cho công ty nhận đầu tư không chỉ là riêng tiền, chẳng hạn như tiếp cận các nguồn lực của các công ty lớn này – ví dụ như các đội kỹ thuật của họ, các kênh phân phối và các mối quan hệ giữa nhà cung cấp. Các nỗ lực đầu tư mạo hiểm của các tập đoàn này thường xoay quanh các mục tiêu đầu tư và nhắm tới sáp nhập và mua lại trong tương lai, tiếp cận các công nghệ mới, tham gia vào việc phát triển sản phẩm chung, chia sẻ quyền truy cập vào các kênh phân phối được thành lập, nhận giấy phép sở hữu trí tuệ, cung cấp công việc cho năng lực không sử dụng và đột nhập vào các thị trường mới.

Các khoản đầu tư thường cần cả hai đáp ứng các tiêu chí cốt lõi về tài chính và cung cấp một sự phù hợp chiến lược với một hoặc nhiều đơn vị kinh doanh trong công ty, cho cơ hội tăng trưởng hoặc lý do tăng cường nội bộ. Một trong những vấn đề chính trong việc thành công trong việc huy động vốn từ những nguồn này là phải hiểu rõ về “nền tảng động lực” của CEO và các ưu tiên hàng đầu. Kế hoạch kinh doanh của bạn làm thế nào để tạo cơ hội cho nhà đầu tư và chiến lược cụ thể là gì? Lợi ích trong đó cho nhà đầu tư? Lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài về công nghệ, sản phẩm, nhóm dịch vụ bạn sẽ giúp nhà đầu tư xây dựng và duy trì?

Các tập đoàn đầu tư mạo hiểm là một trong những phân khúc phát triển nhanh nhất của ngành đầu tư vốn mạo hiểm vì các công ty công nghệ lớn đang tìm những cách sáng tạo hơn để đầu tư vào các đối tác và triển khai gần 2,1 nghìn tỷ đô la vốn nhàn rỗi vào thời điểm mùa thu năm 2011.

Năm 1996, chỉ có 49 công ty đầu tư mạo hiểm thông qua các đơn vị đầu tư “độc lập”; vào năm 1999, đã có gần hai trăm công ty, chiếm hơn 15 phần trăm của tất cả các khoản đầu tư mạo hiểm. Tuy nhiên, vào năm 2001, các quỹ đầu tư mạo hiểm của các tập đoàn đã trở nên thận trọng hơn và tập trung vào các thương vụ mang tính chiến lược cao và trị giá các thương vụ cũng nhỏ hơn. Nhiều tập đoàn đã phải chịu những khoản bù đắp thua lỗ của khoản đầu tư vào các công ty đã hoặc đã giảm đáng kể về giá trị. Ví dụ, bộ phận đầu tư mạo hiểm của Intel đã đầu tư 1,3 tỷ USD vào 300 doanh nghiệp mới thành lập vào năm 2000, nhưng con số đó đã giảm hơn một nửa vào năm 2004.

Mặc dù không đạt được mức độ như năm 2000, tuy nhiên từ năm 2004 đến năm 2008, 7 đến 10 phần trăm của tất cả các khoản đầu tư vốn mạo hiểm, với khoảng 1,5 tỷ đô la và 2,6 tỷ đô la đầu tư mỗi năm tới từ các tập đoàn. Trong năm 2009, tổng đầu tư vào vốn liên doanh của tập đoàn đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2003 (1,3 tỷ USD). Trong năm 2010, đã có sự cải thiện dần dần trong các thương vụ liên doanh của công ty, với khoảng 1,9 tỷ đô la đầu tư cũng như sự tham gia của các nhà phát triển mới vào thị trường, chẳng hạn như ABB Technology Ventures, một bộ phận của ABB, Ltd. (một công ty cơ sở hạ tầng năng lượng Thụy Sỹ với 54 tỷ đô la vốn hóa thị trường), vốn đầu tư hơn 75 triệu đô la trong gần mười giao dịch trong năm 2010, thường là trong quan hệ đối tác hoặc hợp danh với các quỹ đầu tư mạo hiểm truyền thống khác.

 

Ngoài ra còn có một số loại hình đầu tư mạo hiểm khác nữa bao gồm:

Nhà đầu tư “thiên thần” (Angle Investor): Các cá nhân có vốn với kinh nghiệm hoạt động – đầu tư vốn vào một công ty mới khởi sự. Mức đầu tư điển hình là từ $50,000 đến 1,5 triệu. Angel là thành viên trong ban Giám đốc- đóng góp kinh nghiệm cũng như tư vấn cho hoạt động cũa doanh nghiệp.

Các tổ chức phát hành riêng lẻ chứng khoán giá trị cao (High-net-worth Pivate Placement): Các công ty cung cấp dịch vụ tài chính tổ chức thành một nhóm bao gồm những cá nhân có rất nhiều tiền. Mức vốn tập trung từ những nguồn này khoảng từ $5 triệu đến $50 triệu.

Tổ chức quản lý tài sản (Asset Management): Nhóm khác nhau bao gồm các công ty hợp danh hay tập đoàn kinh doanh quản lý 5 triệu đến 20 tỷ đolla  và tập trung vào các chiến lược đầu tư đa dạng hóa với những hàng hóa thuộc thị trường công chúng như cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa tiền tệ.

Công ty mua lại cổ phần theo kiểu vay nợ đầu cơ (Leverage Buyout Firms): Công ty hợp danh TNHH hoặc tập đoàn kinh doanh mua được quyền kiểm soát một hãng tư nhân hoặc công chúng, sử dụng vốn của chính mình kết hợp với nợ tài trợ từ ngân hàng. Độ lớn của các giao dịch này dao  động từ 1 triệu đến nhiều tỷ đolla.

Qũy đầu tư linh hoạt (Hedge Fund): Tồn tại dưới hình thức công ty hợp danh TNHH hoặc tập đoàn kinh doanh thực hiện các hoạt động  mua – bán những công cụ thị trường như cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, tiền tệ vv….; đương đầu với biến động thị trường. Quy mô của các quỹ này nằm trong khoảng từ vài triệu đến nhiều tỷ đolla.

Nhà kinh doanh ngắn hạn (Traders): Các công ty con (chi nhánh) thuộc các công ty sell-side (ngân hàng thương mại…) kiểm soát và đầu tư một số lượng lớn tiền tệ vào thị trường công chúng (cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, tiền tệ…) đương đầu với những biến động của thị trường.

Liên hệ để nhận được tư vấn:

SĐT: 091.2154.176

Email: vanvu@irvietnam.vn